ANH HÙNG DÂN TỘC : NGUYỄN TRUNG TRỰC

Anh hùng Nguyễn Trung Trực

Tại xóm chài nghèo, anh hùng Nguyễn Trung Trực đã tuyên bố: “Tôi ra đi đánh Sài Lang cứu quốc, bao giờ thành công mới trở về. Anh em ailòng thì theo tôi. Nếu việc lớn không thành, thì hằng năm gia đình cứ lấy ngày này làm mâm cơm để anh em sum họp...”.

Hơn 150 năm trước, ông đã nêu khí phách can trường của người Việt trước nạn ngoại xâm. Loạt bài này để tưởng nhớ người anh hùng xuất thân từ dân chài, nhân kỷ niệm lễ giỗ lần 143 của ông.

Lời thề cứu nước

Câu chuyện về lời thề cứu nước này đã diễn ra trong buổi lễ cầu ngư ngày 10-3 năm Canh Thân (1860). "Cố Nguyễn đã gọi anh em bạn bè lại tuyên bố như vậy!" - ông Nguyễn Văn Bảy, cháu đời thứ năm của Nguyễn Trung Trực ở xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức (Long An) - thuật lại từ những lời kể truyền đời của dòng họ.

Những "biến cố bi thảm" của quân Pháp

Chúng tôi trở lại vàm sông Nhựt Tảo với mong ước tìm chút dấu xưa tích cũ về trận đánh tàu Esperance cách nay gần 150 năm. Nơi đây, trưa 10-12-1861 Nguyễn Trung Trực đã dùng kế “điệu hổ ly sơn”, cho một toán nghĩa quân ra mặt quấy phá một địa điểm cách tàu Esperance đậu chừng 2km. Trung úy Parfait, chỉ huy tàu, mắc mưu dẫn một số lính rời tàu đi bắt “quân phiến loạn”.

Lúc này Nguyễn Trung Trực cùng hơn 59 nghĩa quân đi trên năm ghe, giả làm một đoàn rước dâu, cập vào chiếc Esperance để trình diện. Khi lên tàu, “cô dâu chú rể và sui gia hai họ” nhất loạt tuốt vũ khí giấu trong người tấn công quân giặc. Bị tấn công bất ngờ, 17 sĩ quan và lính Pháp, 23 lính Ma Ní và lính tập đã bị tiêu diệt.

Chiếc Esperance bọc đồng được trang bị vũ khí hiện đại như một pháo đài nổi nhanh chóng bị nghĩa quân đốt cháy, nổ tung và chìm hẳn xuống lòng sông. Khi hay tin tàu bị tấn công, trung úy Parfiat gọi thêm viện quân quay lại tiếp ứng thì chỉ thấy những mảnh ván tàu trôi bập bềnh. Thua đau, Parfiat ra lệnh đốt hơn 300 căn nhà. Triều đình Huế khi hay tin đã thưởng cho binh lính 1.000 quan tiền, phong chức cai đội cho hơn 20 người khác.

Riêng bốn nghĩa quân hi sinh, gia đình được hưởng tiền tuất gấp đôi, con và em ruột cũng được phong ấm, chiêu, hưởng bổng lộc cả đời. Về trận đánh này, sử gia người Pháp Alfred Schreiner nhận xét đây là “một biến cố bi thảm, gây xúc động sâu sắc nơi người Pháp và kích thích một cách lạ lùng trí tưởng tượng của người An Nam”.

Đánh thành Kiên Giang

Trận công thành Kiên Giang diễn ra ngày 16-6-1868, cũng với yếu tố bất ngờ cộng với tinh thần xướng nghĩa, huy động nhiều thành phần tham gia. Từ cô Điều, cô Đỏ, vốn là hai chị em sinh đôi Thạch Thị Son và Thạch Thị Sên, con nhà điền chủ Thạch Danh ở Sóc Ruộng (gần chợ Rạch Giá ngày nay).

Hai bà vừa làm trinh sát, vừa làm tham mưu và kiêm luôn công việc mà ngày nay ta gọi là binh vận - lôi kéo, giác ngộ binh lính người Việt, người Khmer theo Pháp, ngả về phía nghĩa quân. Từ Quản Cầu, Xã Lý tới các hương hào địa phương đều theo về Nguyễn Trung Trực để làm nên trận kiếm bạt Kiên Giang, diệt trưởng đồn Sauterne và hàng chục sĩ quan, binh lính trú ngụ trong đồn, làm chủ tỉnh lỵ Rạch Giá trong sáu ngày.

Paulin Vial, một sĩ quan cao cấp của Pháp tại Nam kỳ,  từng giáp mặt Nguyễn Trung Trực trên chiến trường và là tác giả quyển Những năm đầu của Nam bộ thuộc Pháp, xuất bản năm 1874 tại Pháp, đã viết về trận tập kích đồn Kiên Giang như sau: “Người ta biết rằng hồi 4 giờ sáng 16-6-1868, trong suốt đêm tối tăm, đồn bị công hãm. Binh số khoảng 30 người ở trong một cái nhà xịt sạt, giữa một vòng rào rộng bao bọc bằng vách đất và cửa lớn làm chưa rồi. Một bọn đông đặc người cướp đồn, tên lính gác bị hạ sát và phần nhiều lính gác ở riêng rẽ với các sĩ quan, không đủ thời gian lấy súng gươm để chống trả lại. Sauterne, trưởng đồn, bị thác lúc kế đó sau khi chống chọi kịch liệt. Bị bao vây bởi đám đông người bản xứ, viên thanh tra bị tàn sát. Khoảng 10 người lính tự giữ mình vài chặp, rồi mở một đường thoát ra trong làng, lính bị bắn chết, trừ một mống là Duplessis trốn dưới bụi lùm, ngoài bưng”.

Với lời thề cứu nước, Nguyễn Trung Trực đã làm nên những chiến công vang dội ở Nam kỳ trong buổi đầu chống Pháp.

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, thế hệ cháu chắt của Nguyễn Trung Trực giờ sinh cư lập nghiệp khắp nơi, nhưng vẫn còn đó hàng chục gia đình từ đời này qua đời khác vẫn bám trụ trên mảnh đất thiêng. Tôi tìm đến nhà ông Nguyễn An Thọ (Mười Thọ, 72 tuổi), cháu đời thứ 4 của Nguyễn Trung Trực...

Người dân chài hào hiệp

Ông Mười Thọ dẫn tôi vòng qua con kênh nhỏ phía sau nhà, lần ra mé sông Bến Lức. “Nội tôi kể hồi xưa ghe thương hồ miệt dưới thường theo sông Vàm Cỏ Tây băng qua kênh Thủ Thừa, sông Bến Lức để vô Sài Gòn - Chợ Lớn. Cách xóm Nghề này không xa còn có bến đò Bình Nhựt, trạm thu phí đường sông, đối diện bên kia là chợ Phước Tú, hàng quán trù mật. Bối (từ xưa gọi trộm cướp đường sông - PV) tứ xứ tập trung về.

Họ thường chặn ghe tàu đi qua bắt phải cống nạp, hoặc đương đêm thình lình từ dưới sông trồi lên trấn lột tiền của, cưỡng hiếp đàn bà con gái. Dân thương hồ mỗi khi đến đoạn sông này đều phải tập hợp số đông chớ không dám đi riêng lẻ...” - ông Mười Thọ kể.

Theo truyền ngôn trong dòng họ, Nguyễn Trung Trực sinh vào khoảng năm 1838, lúc nhỏ có tên là Chơn, từ năm 1859 mới đổi sang tên Nguyễn Văn Lịch. Tuổi thiếu niên Nguyễn Trung Trực đã nối nghiệp cha, ông nội làm nghề chài lưới và có thời gian làm bạn nghề cho ông Trần Ngọc Tới (ông nội của hội đồng Trần Ngọc Lân ở Bến Lức sau này).

Rồi ông được cha cho đi học cả văn lẫn võ với một người thầy ở kênh Bảo Định. Thấy tính tình ông cương trực, thẳng thắn, hay giúp đỡ mọi người nên thầy mới đặt thêm cho ông tên Nguyễn Trung Trực. Ban ngày các môn sinh chia nhau đi làm ruộng, săn bắn, bắt cá, tối mới tập trung lại văn ôn võ luyện.

Nhờ bơi giỏi, lại rành nghề sông nước nên Nguyễn Trung Trực được thầy giao việc bắt cá. Là môn sinh xuất sắc nhất nên Nguyễn Trung Trực luôn được thầy cử đi giao lưu, thi triển võ công khắp các võ đường. Nơi nào ông đến đăng đài, các đối thủ đều dạt ra, không ai dám nghênh đấu.

Ông Mười Thọ cũng thuật lại câu chuyện lưu truyền tại xóm Nghề mà các bậc cao niên hay kể cho con cháu: ngày đi chài lưới, đêm Nguyễn Trung Trực và các bạn thường ngụy trang bằng cách lấy đất sét trét lên người, ẩn mình hàng giờ trên mé sông, hễ thấy có bối xuất hiện cướp ghe thuyền thì ra tay nghĩa hiệp.

Đám bối Bình Trinh Đông do cặp vợ chồng có tục danh “ông Hớn bà Hở” một thời làm mưa làm gió vậy mà đành thúc thủ, dạt qua nhập với bối Ba Cụm (gần Chợ Đệm, huyện Bình Chánh, TP.HCM bây giờ). Nguyễn Trung Trực truy đuổi tới nơi, cải tà quy chánh gần hết. Những người này về sau đã tham gia nghĩa binh, cùng ông đánh chìm tàu Espérance trên vàm sông Nhựt Tảo.

Địa linh sinh nhân kiệt

Gia phả của hậu duệ Nguyễn Trung Trực tại Long An cũng như nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực đều ghi: Nội của Nguyễn Trung Trực là Nguyễn Văn Đạo, quê gốc tại xóm Lưới, xã Vĩnh Hội (nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải), huyện Phù Cát (Bình Định), khi khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra đã đưa gia quyến vào khai cơ lập nghiệp tại xóm Nghề, nay thuộc ấp 1, xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức (Long An).

Xưa, xóm Nghề thuộc vùng đất xung yếu trong vành đai bảo vệ thành Gia Định, án ngữ thủy lộ quan trọng thông thương giữa miền Đông và miền Tây, nhất là sau khi đào kênh Thủ Thừa nối liền hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Bởi thế nơi đây từng xảy ra nhiều cuộc giao tranh khốc liệt giữa quân đội Nguyễn Ánh và Tây Sơn.

Người dân ở đây vốn là hậu duệ của những lưu dân miền Trung buổi đầu vào “phá sơn lâm, đâm hà bá”, mang trong mình một truyền thống cần cù, quật khởi. Họ nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên bao la hùng vĩ, tạo nên một phong cách hào sảng trọng nghĩa khinh tài đặc trưng của Nam bộ. “Địa linh sinh nhân kiệt.

Vùng đất hào khí ven bờ sông Vàm Cỏ Đông đã hun đúc tính cách anh hùng lý tưởng của Nguyễn Trung Trực: chí hiếu với cha mẹ, sớm có lòng yêu nước và có tài năng quân sự tuyệt vời” - ông Nguyễn Văn Thiện, phó giám đốc Ban quản lý di tích lịch sử văn hóa tỉnh Long An, người đã dành nhiều tâm sức tìm hiểu về cuộc đời và thân thế Nguyễn Trung Trực, đúc kết.

Về tính cách “anh hùng tự thiếu niên” của Nguyễn Trung Trực, tác giả Nguyễn Văn Khoa trong quyển Anh hùng kháng Pháp Nguyễn Trung Trực - NXB Trẻ TP.HCM ấn hành năm 2001 cũng cung cấp tư liệu đáng chú ý: “Năm 18 tuổi Nguyễn Trung Trực đã đệ đơn lên quan trấn thủ tỉnh Định Tường là Ngô Xuân Liêm để xin lập đạo nghĩa quân chống giặc cướp bảo vệ xóm làng nhưng đơn bị bác.

Ông đến Long Hồ để xin lần nữa, viên trấn thủ ở đây chấp thuận, ông trở về quê chiêu tập quân sĩ. Hai người đầu tiên sát cánh với ông, sau này tham gia trận đánh tàu Espérance trên vàm sông Nhựt Tảo là Nguyễn Văn Hổ và Lê Thị Kiệt. Sau đó thêm một người là quản cơ Lê Đình Vận, người gốc miền Trung, gia đình cùng di cư vào Nam với Nguyễn Trung Trực đã quy tụ được 200 chiến sĩ, phần lớn là thanh niên miền Trung và giao cho ông điều khiển”.

Lần giở lại các tư liệu lịch sử, chúng ta cũng biết Nguyễn Trung Trực đã đem đội quân này gia nhập nghĩa binh của Trương Định và được phong làm quyền sung quản binh đạo. Sau trận đại đồn Chí Hòa (tháng 2-1861) ông đã theo Trương Định rút về huyện Cửu An (Tân Trụ, Thủ Thừa, Đức Huệ ngày nay) chỉ huy nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Các tài liệu lịch sử chính thống cũng ghi nhận trước khi đánh trận Nhựt Tảo, vào ngày 10-4-1861, Nguyễn Trung Trực đã chỉ huy nghĩa quân tập kích, diệt gọn hơn 30 binh lính và sĩ quan do trung tá Bourdair chỉ huy định đổ bộ lên bờ kênh Bảo Định để chiếm thành Định Tường.

Đây là chiến công vang dội của người anh hùng làng chài.


Chiến công vang dội của Nguyễn Trung Trực

Ông Mười Thọ biết nhiều chuyện liên quan tới cụ Nguyễn vì được cha và bác kể lại. Cha ông Mười Thọ, ông Nguyễn Văn Chỉnh (Tám Còn), gọi Nguyễn Trung Trực là ông chú, từng làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến xã Bình Nhựt. Ông Mười Thọ còn có người bác ruột là nhà sư Thích Thiện Nghiêm (tục danh Nguyễn Văn Cậy), trụ trì chùa Sùng Đức, Q.11, TP.HCM. Đây là những người có uy tín lớn trong dòng họ, có lúc được giao trọng trách gìn giữ áo mão và ấn tín của Nguyễn Trung Trực sau khi cụ bị Pháp hành hình tại Rạch Giá.

Những năm 1958-1961 ông Mười Thọ từ Bình Nhựt lên Sài Gòn học, ở trọ tại chùa Sùng Đức. Ông kể: “Khoảng đầu năm 1958, một phái đoàn ký giả và những người viết sử từ Pháp sang chùa Sùng Đức gặp sư Thích Thiện Nghiêm để tìm hiểu xem bằng cách nào nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã tấn chiếm và đốt chìm tàu Espérance lừng lững án ngự trên vàm sông Nhựt Tảo. Sau buổi tiếp xúc, một người Pháp đã bật lên: “Nếu Trung Quốc có Quan Vân Trường thì Việt Nam có Nguyễn Trung Trực”. Câu nói đó luôn vang vọng bên tai ông Mười Thọ suốt hơn 50 năm qua!

Trong ngôi mộ cổ

Truyền thuyết về Nguyễn Trung Trực thật phong phú, riêng nơi Pháp chôn cất ông lại càng có nhiều lời đồn đoán khác nhau. Có người nói: “Sau khi thi hành án chém, Pháp chôn ông Nguyễn thân một nơi, đầu một chỗ, vì lo sợ nghĩa quân sẽ cướp xác”.

Lại có ý kiến: “Gia đình cụ Nguyễn đã lo cho tên đao phủ Bòn Tưa hai nén bạc để hắn xuống nhẹ tay, đầu không lìa khỏi cổ và sau đó giặc đã chôn cụ trong khu vực tòa bố (tòa hành chính) Kiên Giang”...

Lễ cải táng di hài người anh hùng Nguyễn Trung Trực về đình tại TP Rạch Giá, Kiên Giang năm 1986 - Ảnh: Nguyễn Văn Thuận.

Bí ẩn dưới gốc đa

Sau năm 1975, tỉnh Kiên Giang đã đặt ra yêu cầu tìm mộ Nguyễn Trung Trực. Ông Trần Lam (Bảy Lam), nguyên phó chủ tịch UBND tỉnh, nhớ lại: “Năm 1979 tôi về làm giám đốc Sở Văn hóa - thông tin, anh Hai Huỳnh (Lê Minh Huệ), lãnh đạo tiền nhiệm, lúc bàn giao công việc đã dặn đi dặn lại: Anh em cố gắng thu thập các thông tin truyền khẩu trong dân gian và các tài liệu lưu trữ của Pháp để tìm cho bằng được mộ cụ Nguyễn Trung Trực. Đó là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta”.

Để thực hiện yêu cầu này, Sở Văn hóa - thông tin Kiên Giang đã lập đội công tác, chia thành nhiều nhóm. Nhóm ở thị xã Rạch Giá, theo dư luận truyền khẩu “giặc chôn cụ Nguyễn dưới gốc đa gần tòa bố”, đã tiến hành khảo sát khu vực khuôn viên tòa hành chánh, xung quanh cây đa phía sau dinh tỉnh trưởng kéo dài tới giáp lộ qua khám lớn, và khu vực cây đa phía trước dinh tỉnh trưởng đến giáp lộ qua ngân hàng...

Suốt một thời gian dài tìm kiếm, đào thăm dò nhưng các nhóm khảo sát vẫn không phát hiện dấu tích gì. “Một bữa, sở đang tổ chức cuộc họp đánh giá kết quả công việc, mọi người đều căng thẳng vì mấy năm rồi mà chưa tìm được mộ cụ Nguyễn thì anh Sơn Nam từ ngoài cổng bước vô. Tôi biết anh từng có nhiều công trình sưu khảo về cụ Nguyễn Trung Trực nên hỏi cầu may: Anh xuống chỉ tụi tôi mộ cụ Nguyễn hả”, ông Bảy kể. Nhà văn Sơn Nam có vẻ ngạc nhiên, đáp: “Ủa, tưởng mấy ông biết rồi. Trước năm 1945 tôi làm thơ ký ở tòa bố Rạch Giá, có lần tình cờ biết chỗ Tây chôn cụ Nguyễn. Tôi còn nhớ chỗ đó ở sau tòa bố, cạnh cây đa lớn và đống gạch cũ...”.

Sau khi nghe nhà văn Sơn Nam nói, ông Bảy Lam đã cho ngừng cuộc họp, nhờ dẫn ra chỉ mộ ngay. Hơn 40 năm rồi nhà văn Sơn Nam mới quay lại nơi này. Cây đa ngày trước đã bị đốn, còn trơ lại cái gốc to, có mấy nhánh mọc lên. Nhưng cạnh đó, đồn lính cũ bằng đá do Pháp cất vẫn còn, nên nhà văn không khó để xác định vị trí ngôi mộ đã ăn sâu vào ký ức. Ông chỉ ngay vào phiến đá hình vòng cung, dài khoảng 1m, khẳng định: “Đây là mộ bia, phía dưới là di hài cụ Nguyễn Trung Trực”. Thấy nhà văn Sơn Nam chỉ, nhiều thành viên có mặt lúc ấy đã không khỏi sửng sốt vì trước đây do không biết, có người đã vô tình bó gạch, tráng ximăng làm chuồng nuôi heo ngay trên nền mộ.

Lúc 13 giờ ngày 19-4-1986, đội khai quật bắt đầu công việc. Sau bốn tiếng tỉ mẩn tìm kiếm từng nắm đất trong lòng huyệt mộ dài trên 2m, rộng 1m, sâu 1,8m, thu được một hộp xương sọ đã bể, ba cái răng mòn vẹt, một đốt xương cổ ở vị trí sát hộp sọ, một số xương sườn và xương ống chân. Không có thêm gì ngoài mấy miếng gỗ mục nát dùng để đóng quan tài.

Ngay tại hiện trường, đội khai quật gồm tám người, trong đó có nhà nhân chủng học - khảo cổ học Nguyễn Trung Khá, cán bộ Ủy ban Khoa học TP.HCM, đã đưa ra nhận xét bước đầu: “Đây là bộ xương tộc Việt, đàn ông, khoảng 40 tuổi. Người này cao khoảng 1,6m, đã chôn trên 100 năm. Người này ăn trầu và có lẽ nghèo vì mộ bằng đất, hàng bằng gỗ tạp và không có vật lễ mang theo...” (trích biên bản khai quật được lập lúc 17g ngày 19-4-1986).

Những bức thư nặng tình

Dựa vào những luận cứ có tính khoa học khi phân tích hài cốt, đồng thời tham khảo, đối chiếu những thông tin truyền khẩu trong dân gian, tỉnh Kiên Giang đã kết luận đây là hài cốt cụ Nguyễn Trung Trực và quyết định di dời về đình Nguyễn Trung Trực (TP Rạch Giá). Ngày 15-11-1986, ngôi mộ mới, khang trang hoàn thành trước nhà Tây lan, bên trái đình Nguyễn Trung Trực.

Vậy là sau 118 năm (1868-1986) thăng trầm dâu bể, xương cốt người anh hùng dân tộc mới được tìm thấy và đưa về nơi trang nghiêm. “Làm được việc này, bà con mình xúc động lắm. Nhiều người ở xa đến quỳ trước mộ cụ thắp hương mà cứ khóc ròng như người thân đi xa lâu ngày mới gặp lại” - ông Bùi Văn Thành, ủy viên ban bảo vệ đình Nguyễn Trung Trực, cho biết.

Ông Bảy Lam trầm tư: “Việc tìm mộ coi vậy chứ “sóng gió” lắm. Có người đã gửi thư tới các cơ quan cấp tỉnh nói rằng đó là mộ của người Tây nào đó, chứ không phải mộ cụ Nguyễn. Tôi nghĩ những ý kiến này nọ có lẽ xuất phát từ tình cảm sùng kính dành cho cụ, cũng như có những truyền khẩu khác nhau về nơi an táng cụ. Đó là trăn trở chính đáng và tỉnh Kiên Giang hồi ấy đã giải quyết rất cẩn trọng trên tinh thần dựa vào những luận cứ khoa học, cũng như tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn”.

Một trong những luận cứ mà chúng tôi tiếp cận được là “tờ cam kết” viết tay của nhà văn Sơn Nam đề ngày 15-10-1986, nguyên văn như sau: “Tôi ký tên dưới đây là Phạm Minh Tày, nhà văn bút hiệu Sơn Nam, tác giả quyển Nguyễn Trung Trực, anh hùng dân chài in tại Sài Gòn vào năm 1959.

Năm 1943-1944, tôi có làm thơ ký ở tòa bố Rạch Giá, vì thế mà tôi có tìm hiểu về Nguyễn Trung Trực, nhất là nơi chôn hài cốt. Tên phó tham biện bấy giờ là Roger Lucas có nhà riêng ở khuôn viên tòa bố nói nhiều lần với tôi rằng xác của Nguyễn Trung Trực chôn ở sát bên Tòa bố, tức là chỗ mà tôi đã chỉ rõ để khai quật. Tòa bố thời Pháp, từ năm 1880 về sau xây không chính xác đúng nền tòa bố cũ.

Vì vậy, tòa bố sau có vách đá kiểu đồn lính, lại sát kề bên mộ. Giặc giữ xác Nguyễn Trung Trực sát đồn, sợ trường hợp nghĩa quân lén đào xới, đem chôn nơi khác rồi khởi nghĩa lần nữa. Hoặc nghĩa quân cho rằng người bị giặc chém là Nguyễn Trung Trực giả, chẳng dám công khai để xác nhận sự thật. Thời Mỹ, một tên tỉnh trưởng đã cho lính thăm dò và mời tôi đến ăn lễ, tôi từ chối không đến. Xin trình với Sở Văn hóa - thông tin Kiên Giang những điều tôi biết và hoàn toàn chịu trách nhiệm”.

Cố giáo sư Trần Văn Giàu và nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng khi được hỏi ý kiến về việc này đã bày tỏ tâm huyết qua bức thư viết chung đề ngày 8-1-1989, lúc đang giữ nhiệm vụ chủ tịch và phó chủ tịch Hội đồng khoa học xã hội TP.HCM. Thư có đoạn: “Có điều kiện, có lý do để các đồng chí ở Kiên Giang xác định di hài đó là của Nguyễn Trung Trực. Điều kiện thì có, tuy không đủ. Không đủ nhưng đã có tối thiểu. Không đủ thì còn có thể điều tra, khảo sát, nghiên cứu thêm cho đến khi nào có bằng cớ là không phải thì ta sẽ nhận định lại. Còn bây giờ hãy xem đó là di hài của ông Nguyễn Trung Trực và không được làm gì có thể làm giảm bớt lòng tôn kính của nhân dân với vĩ nhân lịch sử”.

Bảy ghe, sáu gánh

Việc tìm ra hài cốt cụ Nguyễn và đưa về lập mộ ở đình Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá, Kiên Giang) đã đưa đến một phát hiện mới: tại hai xã Tân Tiến và Tân Đức, huyện Đầm Dơi (Cà Mau) có hàng trăm hậu duệ cụ Nguyễn Trung Trực đang sinh sống. Song thân cụ Nguyễn và các em của cụ cũng được an táng ở đây.

Ước nguyện dòng họ

“Hồi tôi mới biết đọc, biết viết đã nghe má căn dặn mấy anh tôi: Ông cả Trực của tụi con vì đánh Tây mà bị chặt đầu ở Rạch Giá, dòng họ phải bỏ xứ Tân An vô Tà Niên (Rạch Giá) rồi về Đầm Dơi. Sau này nước nhà độc lập, con cháu phải ráng tìm cho ra xương cốt cụ cố cả mang về đây sum họp với ông bà. Dặn vậy, nhưng ở tuổi ngoài 80, má lại là người đầu tiên biết tin tỉnh Kiên Giang tìm ra di hài và lập mộ cụ tại đình Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá” - ông Trần Trung Thiện (Chín Thiện, 62 tuổi), con thứ 9 của bà Nguyễn Thị Sử ở ấp Tân Long A, xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi (Cà Mau), nhớ lại.

Thật ra từ trước năm 1945 bà Ba Sử (sinh năm 1908, mất năm 2004) đã biết ở Rạch Giá, cạnh dinh tỉnh trưởng có đền thờ cụ Nguyễn lớn lắm, nhưng hồi ấy còn chiến tranh, việc đi lại rất gian nan, từ Đầm Dơi đi tàu qua tới Rạch Giá có khi mất mấy ngày. Sau giải phóng miền Nam bà cũng đã nhiều lần dẫn con cháu sang cúng viếng cụ Nguyễn.

Bẵng đi một thời gian, tới khoảng đầu năm 1987, trong một lần sang cúng cụ, bà Ba Sử ngỡ ngàng khi nhìn thấy ở góc trái sân đình có ngôi mộ rất uy nghi (mộ lập xong ngày 15-11-1986). Đọc dòng chữ trên bia, biết sự tình, bà sụp xuống khóc nức nở. Thấy sự lạ, khách hành hương bái viếng đình thần cụ Nguyễn kéo tới xem rất đông.

Vụ việc được cấp báo lên ban bảo vệ di tích đình thần và ngành văn hóa tỉnh Kiên Giang. Đích thân bà Nguyễn Thị Mỹ Thu, giám đốc Bảo tàng tỉnh Kiên Giang, đã đưa đoàn công tác về gặp gỡ cháu chắt cụ Nguyễn Trung Trực ở hai xã Tân Tiến, Tân Đức, huyện Đầm Dơi, sưu tầm các tài liệu, hiện vật liên quan tới họ hàng cụ Nguyễn.

Tại cuộc hội thảo khoa học “Thân thế và sự nghiệp anh hùng Nguyễn Trung Trực” do tỉnh Kiên Giang tổ chức (tháng 8-1988) nhân 120 năm ngày mất của cụ, thông tin được công bố khiến những người sùng kính cụ Nguyễn trong cả nước không khỏi bất ngờ.

Cuộc di cư đặc biệt

Tại Cà Mau, chúng tôi tìm đến nhà ông Trần Văn Chính (Năm Nống, 92 tuổi) ở ấp Tân Đức, xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi. Ông là hậu duệ đời thứ ba và là nhân chứng duy nhất từng sống gần gũi hai người em ruột của Nguyễn Trung Trực là bà Nguyễn Thị Đào (bà ngoại ông) và ông Nguyễn Văn Thơ (ông út) trong thời gian khá dài.

Khi bà ngoại và ông út qua đời, ông Năm Nống đã 14, 15 tuổi nên vẫn còn nhớ nhiều chuyện ngoại và ông út kể về ông cả Nguyễn Trung Trực.

Trong căn nhà cổ kính bên con rạch Tân Đức, ông Năm Nống đưa chúng tôi trở lại thời khai hoang lập làng: “Bà ngoại tôi thuật lại sau khi ông cả Nguyễn Trung Trực bị Tây hại ở Rạch Giá, để tránh sự truy sát của giặc, ông Nguyễn Văn Phụng (cha Nguyễn Trung Trực) cùng với các ông cai Thoại, cai Kiển và nghĩa quân còn sống sót ở bãi luyện quân Tà Niên (Rạch Giá) hội ý, “Bảy ghe sáu gánh họ” đồng nhổ sào kéo buồm chạy ra biển tìm nơi lánh giặc. Họ Nguyễn đông nhất, đi trên hai ghe, còn lại năm kiến họ: Lâm, Lê, Trần, Trương, Trịnh mỗi họ đi một ghe, mỗi ghe đâu chừng 15, 20 người, nhắm hướng đồng hoang, rừng rậm mà chèo vô...”.

Theo lời kể của ông Năm Nống, gia tộc Nguyễn Trung Trực và nghĩa quân cũng là những người đầu tiên khai phá vùng đất Tân Tiến, Tân Đức (Cà Mau).

Ngày ấy, “bảy ghe sáu gánh họ” sau khi rời Tà Niên thì cứ đi mãi từ ngày này qua ngày nọ mà chưa thấy nơi nào ưng bụng. Khi tới cửa Bồ Đề (Đầm Dơi) thấy con rạch nhỏ, hai bên cây cối rậm rạp, chưa có dấu chân người đã tấp vô. Đoàn người dựng dãy nhà ở chung, đùm bọc nhau qua ngày bằng nghề ăn ong (lấy mật ong), đặt nò, đắp bọng bắt cá tôm mang ra chợ Cà Mau bán cho thương buôn người Hải Nam, Triều Châu (Trung Quốc), rồi mua gạo, muối, quần áo, nồi niêu về dùng.

Đến năm 1872, mấy ông kỳ lão ra Cà Mau đổi hàng, thấy Tây lố nhố, sợ bị phát hiện tông tích, vội quay về nhổ sào, phá bụp dừa nước tiếp tục lần vô rừng sâu. Tới doi đình bây giờ thì không đi đặng nữa mới vác đồ lên bờ, vẹt rừng tìm chỗ khô ráo cất nhà sàn cao chót vót để ngừa cọp, cá sấu tấn công. Thấy có nhiều hóc sậy, máng chim lớn dữ dội nên hè nhau gọi là Đầm Chim cho dễ nhớ.

Khi xóm có nhà đông đúc, mọi người góp sức cất một ngôi đình, đặt tên là đình Tân An để vọng nhớ cố hương Tân An phủ. Năm 1946 Tây vô lấy đình làm bót, bị hậu duệ cụ Nguyễn đánh bật ra, bà con sợ chúng quay lại bèn phá luôn ngôi đình.

Tính đến nay, qua gần 150 năm sinh cư lập nghiệp trên vùng đất mới, hậu duệ cụ Nguyễn Trung Trực đã phát triển đến đời thứ 9, thứ 10, với hàng ngàn người sinh sống, tập trung tại hai xã Tân Tiến, Tân Đức thuộc huyện Đầm Dơi (Cà Mau). Trong số đó cả trăm người đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, người nghỉ hưu, người vẫn đang công tác trong các ban ngành từ cấp huyện đến cấp tỉnh.

Dù đi đâu, làm gì, đến ngày giỗ ông Nguyễn Văn Phụng 20-11 âm lịch hằng năm, mọi người lại tựu về để tưởng nhớ tổ tông.

Sống trong lòng dân

Ông Bùi Văn Thạnh, nguyên giám đốc Sở Văn - hóa thông tin tỉnh Kiên Giang, trong một bài viết về vụ Nguyễn Trung Trực đã bày tỏ niềm tin vào truyền ngôn về những ngày cuối cùng của cụ ở Phú Quốc: “Gặp phải lúc gian nguy, khó lòng địch nổi với giặc, cụ Nguyễn gom mọi người lại bảo: Ta tổ chức mọi người đi đánh giặc, giờ ta cho phép mọi người được tự do về với gia đình, còn ta quyết sống chết với quân thù một trận cuối cùng.

Ta không thể vì lý do gì mà đầu hàng quân giặc, ai cùng lòng với ta thì hãy xách gươm đứng dậy, chúng ta đi”. Số nghĩa quân còn khỏe mạnh sau trận ác chiến ở bến đồn không quá 20 người, tất cả cùng đi với cụ. Trong trận chiến đấu này cụ tả xung hữu đột, chặt biết bao đầu giặc, cuối cùng cụ bị thương nặng, bất tỉnh, bị giặc bắt...”.

Trong khi đó ông Trần Lam, người cũng từng là giám đốc Sở Văn hóa - thông tin tỉnh Kiên Giang, trước khi về làm phó chủ tịch tỉnh, có cách lý giải khác: Khi đối phương dùng thủ đoạn bắt, giết hại dần những người dân Phú Quốc để buộc cụ xuất hiện, cụ Nguyễn Trung Trực đã chủ động ra đối mặt với kẻ thù. Đối mặt chứ không phải “nạp mình”, không phải “ra hàng” để cầu sự sống cho riêng mình.

Đó là thái độ của người quân tử, dám chịu trách nhiệm, dám đối mặt với kẻ thù để dùng cái chết của mình khích lệ tinh thần nhân dân. Những câu nói bất hủ của cụ khi đối mặt với kẻ thù ở khám lớn Sài Gòn, thái độ hiên ngang của cụ khi ra pháp trường ở Rạch Giá chẳng phải đã chứng minh cụ đã thắng kẻ thù trong trận chiến cuối cùng đó sao!

Một nhà nghiên cứu lịch sử ở Kiên Giang khi nghe chuyện này đã nói: “Nghĩ kỹ hai cách nhìn khác nhau, nhưng cùng xuất phát từ tình cảm hậu thế dành cho người anh hùng: chỉ biết kính phục, chỉ biết ngợi ca, chỉ biết noi gương ông”.

Trung tâm TP Rạch Giá có tượng đài Nguyễn Trung Trực và công viên mang tên cụ. Lúc 4-5 giờ sáng, mấy ông bà lão đến dâng hương trước khi đi thể dục. Các chị bán hàng ở đường Duy Tân, Huỳnh Tịnh Của, Đinh Tiên Hoàng, Hùng Vương... dù bận cỡ nào cũng ghé qua bày đĩa trái cây, cắm mấy cành hoa tươi trước khi dọn hàng. “Sắp tới giỗ cụ rồi, tui tính chiều nay về sớm vô đình coi đồ ăn, thức uống cái gì còn thiếu để góp thêm một tay cùng bà con” - chị Hoa, bán trái cây bên Trung tâm thương mại Rạch Giá, nói.

Nắng lên, khách du lịch, vãng lai ngày một đông, xếp thành vòng cung trước bàn thờ khói hương nghi ngút. Trưa, mấy chiếc xe 15, 24 chỗ mang biển số nhiều nơi trong mọi miền đất nước đến đỗ ở đầu công viên, thả khách lên viếng cụ. Cứ thế hôm nào cũng vậy, từ rạng sáng tới 20-21g đêm không lúc nào ngớt người đến viếng, thành kính dâng hương trước tượng đài cụ.

Cách đó non cây số, cạnh trụ sở UBND tỉnh Kiên Giang, đình Nguyễn Trung Trực còn rộn rịp gấp mấy lần. Theo các kỳ lão trong ban bảo vệ đình, ngôi đình này có trước năm 1852, ban đầu thờ Nam Hải đại tướng quân (cá voi). Khi cụ Nguyễn Trung Trực hi sinh, trong tình thế bị Pháp khủng bố, ngăn cấm, người dân không thể thờ công khai nên đã lén đưa linh vị ông vào thờ cùng thần Nam Hải.

Một chi tiết thú vị là trong khi Pháp ra sức trấn áp các cuộc khởi nghĩa và lòng dân tưởng nhớ cụ Nguyễn, có một viên chức người Pháp tên là Le Nestour làm việc tại Sở Thương chánh tỉnh Rạch Giá, đóng gần đình Nam Hải, tỏ ra rất mến mộ cụ Nguyễn Trung Trực. Năm 1881, khi nghe ban hương chức làng bàn định việc xây dựng lại ngôi đình để thờ Nguyễn Trung Trực và thần Nam Hải, Le Nestour liền hưởng ứng bằng cách đóng góp nhiều tài vật và tham gia ban xây dựng đình. Đến năm 1964, đình được đại tu xây dựng lần thứ hai và chính thức lấy tên “Đình thờ Nguyễn Trung Trực”.

Lần này có hai người mang họ Nguyễn là kiến trúc sư tài ba Nguyễn Văn Lợi và thầu khoán Nguyễn Văn Vui vì kính phục cụ Nguyễn mà bỏ công sức vô góp với dân. Về sau đình không chỉ thờ tự vị anh hùng dân tộc, mà còn tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo ở các tỉnh miền Tây. Từ sáng đến đêm, đình không lúc nào ngớt người đến dâng hương và trị bệnh.

3. Mấy hôm nay ông Bùi Văn Thành (Ba Thành, trưởng tiểu ban y tế - xã hội, ban bảo vệ đình Nguyễn Trung Trực) tất bật lo việc tiếp nhận củi, gạo, rau quả, đậu hũ do người dân các nơi mang đến chuẩn bị các buổi cơm chay phục vụ khách thập phương trong ba ngày lễ (23 đến 25-9). “Năm ngoái bà con mang tới 71.200kg gạo, 229.660kg rau quả các loại, 7.012kg đậu nành, 1.250 cây nước đá, 1.352m2 củi, 300 bao trấu... Nhờ đó đã có đủ thực phẩm làm cơm tiếp đãi hơn 700.000 lượt khách đến dâng hương cụ Nguyễn” - ông Ba Thành cho hay.

Đáng chú ý nhất là xưa nay lễ giỗ anh hùng Nguyễn Trung Trực đều do nhân dân đóng góp và tổ chức. Tất cả là sản phẩm “cây nhà lá vườn”, ai có gì mang nấy. Hôm chúng tôi đến, còn hơn tuần nữa mới vào chính giỗ, đã thấy mấy gia đình từ Ba Thê (xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, An Giang) chạy ghe cả nửa ngày đường, mang theo giạ gạo và mấy mụt măng vừa xắn trong vườn sang góp vào bếp ăn của đình. Một học sinh mặc đồng phục Trường THPT Nguyễn Trung Trực (TP Rạch Giá) chở đến bao đậu nành to bằng cái cặp, thưa: “Mẹ con gửi cúng ông cố”, rồi đạp xe đi vội... Người này đi, người khác tới, kho thực phẩm dành cho ngày giỗ cụ Nguyễn cứ đầy dần lên.

Dù ai buôn bán gần xa
Ngày giỗ cụ Nguyễn thì ta cứ về

Hằng năm, mấy trăm ngàn lượt người tựu về trong ba ngày lễ mà không phải lo chi chỗ ăn, chỗ ở. Ăn thì đã có gần 5.000 công quả (người phục vụ trong đình) lo. Ở thì cứ mái hiên, sân đình, hoặc ngay trên ghe đậu ở sông Kiên và mé biển Rạch Giá - nơi ngày xưa cụ Nguyễn hội quân tập kích Kiên Giang thành. Có thể nhiều người không quá khó khăn để tìm cho mình một bữa ăn, một chỗ nghỉ tốt hơn ở chợ Rạch Giá. Nhưng mọi người đến với cụ Nguyễn là đến bằng tấm lòng, ví như ở xa lâu ngày mới về thăm viếng ông bà mình vậy, nên không ai muốn phải rời xa phạm vi ngôi đình thờ tự cụ.

“Bây giờ ở miền Tây rất nhiều gia đình treo ảnh cụ Nguyễn Trung Trực cạnh bàn thờ gia tiên, coi cụ như một thành viên cửu huyền thất tổ của mình. Trong tâm thức của nhiều người, cụ đã hóa thần, vị thần luôn phù trợ, mang đến điều lành cho mọi người” - nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hữu Hiệp (An Giang) nói. Cụ đã chính là một phần trong tâm thức của người Việt vậy!

Không thể ươn hèn

Có nhiều nguyên do về sự thất bại của anh hùng Nguyễn Trung Trực, nhưng dễ thấy nhất là sự chênh lệch quá lớn về vũ khí, phương tiện, kỹ thuật và nghệ thuật quân sự giữa một bên là quân đội viễn chinh của một cường quốc hùng mạnh với một bên là nông dân “chưa quen cung kiếm”.

Những tài liệu mô tả khí giới của hai bên trong trận chiến cuối cùng ở Phú Quốc (Kiên Giang) cho thấy điều đó: “Từ ngoài khơi tàu Pháp bắn đại bác vào, mỗi phát đạn gồm hai quả cầu bằng sắt. Trên bờ nghĩa quân dùng súng gỗ bắn trả lại. Súng này làm bằng cây mù u, được đẽo mắc xung quanh cho láng, cưa thành hai miếng theo chiều dọc, khoét rỗng ở bên trong rồi dùng mây rả (một loại dây rừng có nhiều ở Phú Quốc) niền lại. Sau đó lấy miếng gỗ thật chắc bịt lấy một đầu, rồi khoét lỗ nhỏ dùng để làm ngòi súng. Kế đó là lớp vải hay mồi lửa, trên cùng là viên đạn. Đạn làm bằng đất sét vò viên đem phơi khô rồi nhào với dầu rái!".

Đó là một thế trận không tương xứng, nhưng có lẽ, vận mệnh lịch sử không thể nào dừng lại được, nói như cách nhà văn Sơn Nam thì: "“Ông Nguyễn Trung Trực là viên tướng trẻ tuổi đầu tiên từ Tân An đến Rạch Giá, dùng xương máu để dạy cho dân bài học cụ thể về lòng yêu nước. Cuộc tấn công đồn Rạch Giá quả là hành động táo bạo, chớp nhoáng, được chuẩn bị khá chu đáo về nội ứng, thấy có thể làm được là cứ làm, không do dự. Do dự là bỏ qua thời cơ, thời cơ chỉ thoáng hiện. Chờ đợi cho thiên thời, địa lợi, nhân hòa đầy đủ trăm phần trăm thì chỉ là thái độ ươn hèn. Ông Nguyễn tiếp tục việc chống ngoại xâm của tiền nhân mà sau này con cháu vẫn nối tiếp. Nét độc đáo của ông là thanh niên tính”. (Trích Đất khởi nghĩa và vài giai thoại về Nguyễn Trung Trực - Sơn Nam,Tập san Sử - Địa 12-1968).

ST&TT Trần Ngọc Huyền



Nguồn: http://vocotruyenvn.net

Đăng trong Nhân vật lịch sử

In bài này